Quẻ Bác chỉ thời vận khó khăn, gian khổ, nhiều rủi ro. Là thời kỹ của kẻ tiểu nhân, nhiều điều tiêu cực, không phải là cơ hội cho việc hoàn thành sự nghiệp. Tuy nhiên thời vận có lợi hơn cho nữ giới cho những kẻ xu thời. Không nên triển khai công việc mới, cố giữ như cũ là hơn vì mọi hi vọng đều không thành. Tài vận không có, dễ sinh hao tài tốn của. Xuất hành bất lợi dễ gặp nguy hiểm. Bệnh tật hiểm nghèo có khi nguy đến tính mạng, nhất là đối với người già. Kiện tụng bị thua thiệt, hao tốn tái sản.Thi cử khó đạt . Tình yêu nhiều kẻ dèm pha. Hôn nhân trắc trở ,khó thành.
Quẻ Quan chỉ thời vận đang biến động, không lợi cho hành động, mà phải nghiên cứu quan sát kỹ tình huống trước khi tiến hành công việc, tuy nhiên vẫn dễ thất bại. Là thời vận hợp với những nhà nghiên cứu, các học giả để quan sát, rút ra những điều bổ ích cho tư duy, cho cái mới sau này. Tài vận có thể thành công nhưng phải gian khổ theo dõi và quan sát thời cuộc để hành động cho đúng, không thể nóng vội. Xuất hành chưa lợi, kiện tụng dễ dây dưa, nên hòa giải sớm. Bệnh tật biến chuyển bất thường. Thi cử khó dự đoán trước. Tình yêu kém thông suốt, đôi bên còn chưa hiểu nhau. Hôn nhân còn dùng dằng, phải kéo dài một thời gian mới thuận. Người có quẻ này sinh vào tháng tám là đắc cách: Sự nghiệp dễ thành, công danh dễ đạt.

1) Toàn quẻ :
- Trau dồi mãi đến cực điểm tất phải mòn. Nên tiếp theo quẻ Bí là quẻ Bác (mòn hết).
- Tượng hình bằng trên Cấn dưới Khôn, có 5 hào âm trưởng lên cực độ rồi. Một hào dương ở trên chẳng bao lâu sẽ bị tiêu bác.
- Một mặt khác có nghĩa là trên núi dưới đất, núi cao phải nhờ có đất dầy ở dưới thì mới bền. Do đó người trên phải lo cho kẻ dưới mình được vui vẻ, thì mình mới được an trạch
2) Từng hào :
Sơ Lục : kẻ tiểu nhân bắt đầu phá hoại trật tự xã hội. Nếu cứ để nó tiến dần, sẽ hung. (Ví dụ Cộng sản khi mới nho nhoe tuyên truyền).
Lục Nhị : trùng âm, sự phá hoại thêm mạnh, hung đến nơi, từ dưới lên trên. (Ví dụ các cuộc biểu tình gây rối, các cuộc đình công, khủng bố).
Lục Tam : âm hào cư dương vị, lại ứng với thượng cửu, nếu chịu mất lòng với đảng tiểu nhân mà làm bạn với quân tử, sẽ được vô cữu. (Ví dụ Hoàng phi Hổ phản Trụ đầu Chu).
Lục Tứ : thời Bác đã lên đến thượng quái, tai họa đã đến rồi. (ví dụ loạn kiêu binh thời chúa Trịnh Khải).
Lục Ngũ : là thủ lãnh bọn tiểu nhân, nếu thân cận với Thượng Cửu, đem đồ đệ theoThượng, sẽ chuyển được thời Bác, kết quả tốt. (ví dụ Dương Tái Công, nguyên là tướng giặc kiệt hiệt thời Nam Tống, cảm đức độ của Nhạc Phi, theo Nhạc đi dánh quân Kim, được hiển danh đời đời).
Thượng Cửu : là người quân tử còn sót lại ở thời Bác, nhân dân còn chỗ nương tựa. Nếu tiểu nhân diệt nốt, thì chúng sẽ lâm nguy. (Ví dụ Nhạc Phi là cây cột chống đỡ cho nhà Nam Tống, bị Tần Cối diệt, nên nhà Nam Tống bị lụn bại).
B - Nhận Xét Bổ Túc.
1) Ý nghĩa quẻ Bác :
a) Quẻ này có tới 5 hào âm ở dưới xông lên xua đuổi 1 hào dương, gợi ý một thời suy vi, tiểu nhân múa gậy vườn hoang, quân tử không còn chỗ đứng.
b) Trên đây ta đã nghiên cứu quẻ Bĩ có 3 âm, quẻ Quán có 4 âm, quẻ Bác này thì 5 âm, và quẻ Khôn thì hoàn toàn 6 âm. Theo lý luận thô sơ, thì kết quả hung phải tăng dần từ Bỉ đến Khôn. Nhưng lý luận Dịch lại khác hẳn. Trong quẻ Quán có 4 âm kình với 2 dương, nhưng hai dương này sát cánh với nhau, nên đôi bên (tiểu nhân, quân tử) còn giữ thế thủ, dình mò nhau, bên quân tử dù yếu thế chưa hẳn đã thua. Đến quẻ Bác chỉ còn 1 dương, bị cô lập trước thế 5 âm, nên tương quan lực lượng đã nghiêng hẳn về phe tiểu nhân. Rồi đến quẻ Bĩ tuy có 3 dương đối chọi với 3 âm, nhưng đây không phải hình dung sự quân bình lực lượng giữa đôi bên, mà hình dung sự thắng thế cũa âm đang lên trên mọi hoạt động. Sơ Lục thắng Cửu Tứ, Lục Nhị thắng Cửu Ngũ, và Lục Tam thắng Thượng Cửu. Quẻ Bĩ mới là sự thất bại hoàn toàn của phe quân tử. Và kỳ lạ hơn, quẻ Bát Thuần Khôn có 6 hào toàn âm, không tượng trưng cho một tình thế mới, một tinh thần mới, trong đó âm không trái ngược với dương mà bổ khuyết dương, không là ác, phá hoại, mà là thiện, nuôi dưỡng.
Lý luận Dịch như thế, chúng ta chỉ thần phục sát đất !
2) Bài học :
a) Sự nghiên cứu các hào quẻ này cho ta thấy rõ định luật diễn tiến của nó:
- Khởi đầu tiểu nhân nho nhoe gây rối loạn nhỏ, mà kẻ cầm quyền vì thối nát, đồng tình hay bất lực, cứ để yên không chịu đập tan ngay.
- Rồi tiểu nhân càng mạnh bạo gây loạn, nhà cầm quyền lúc đó có muốn chống lại cũng muộn rồi.
Thỉnh thoảng cũng có kẻ tiểu nhân sáng suốt hơn, biết tách rời khỏi gian đảng mà đi theo quân tử để vãn hồi trật tự, nhưng cũng khó lắm.
- Cuối cùng, tiểu nhân toàn thắng, diệt nốt cái gì còn sót lại của đạo quân tử. Nhưng chính trong sự toàn thắng đó mà chúng sẽ tự tiêu diệt. Vì một khi chúng đã biết ăn ngon, mặc đẹp, đã tập nhiễm đời sống văn minh thì chúng cũng sẽ hủ hoá, tham ô.
b) Vậy nếu ta bói được quẻ Bác, cố nhiên là điềm xấu rồi, vô phương cứu chữa, vì quân tử còn sót lại, làm sao khỏi bị quần tiểu diệt nốt ? Đó là bài học đắng cay phải chấp nhận, và phải cố gắng sửa chữa từ trước, đừng để cho tình thế rơi vào cảnh Bác thì không kịp nữa.CÀN QUÁI: thuộc Kim, gồm có 8 quái là:
Thuần Càn - Thiên Phong Cấu - Thiên Sơn Độn - Thiên Địa Bỉ - Phong Địa Quan - Sơn Địa Bác - Hỏa Địa Tấn - Hỏa Thiên Đại Hửu.
Thiên Thời: Trời - Băng - Mưa đá - Tuyết.
Địa lý: Phương Tây Bắc - Kinh đô - Đại quân - Hình thắng chi địa (chỗ đất có phong cảnh đẹp - Chỗ đất cao ráo.
Nhân vật: Vua - Cha - Đại nhân - Lão nhân - Trưởng giả - Hoạn quan - Danh nhân - Người công môn (chức việc).
Nhân sự: Cương kiện vũ dũng - Người quả quyết - Người động nhiều tịnh ít - Người chẳng chịu khuất phục ai (cứng đầu).
Thân thể: Đầu - Xương - Phổi.
Thời tự: Mùa thu - Cuối tháng 9 đầu tháng 10 - Năm, tháng, ngày, giờ Tuất và Hợi - Năm, tháng, ngày, giờ thuộc ngũ kim.
Động vật: Con ngựa - Con ngỗng trời - Con sư tử - Con voi.
Tịnh vật: Kim, ngọc - Châu báu - Vật tròn - Cây quả - Mũ - Kiếng soi - Vật cứng.
Ốc xá: Đình, công sở - Lâu đài - Nhà cao - Cái nhà lớn - Quán trọ - Ở về hướng Tây Bắc.
Gia trạch:
- Mùa Thu chiêm thì gia trạch vượng.
- Mùa Hạ chiêm thì sẽ có họa.
- Mùa Đông chiêm thì suy bại.
- Mùa Xuân chiêm có lợi tốt.
Hôn nhân: Thân thuộc - Quý quan - Nhà có danh tiếng - Mùa Thu chiêm thì thành - Mùa Hạ, mùa Đông chiêm thì bất lợi.
Ẩm thực: Thịt ngựa - Trân vị - Đồ ăn nhiều xương - Gan phổi - Thịt khô - Trái cây - Cái đầu của các vật - Vật hình tròn - Vật cay.
Sinh sản: Dễ sinh - Mùa Thu sinh quý tử
- Mùa Hạ chiêm thì hao tổn - Lâm sản nên hướng Tây Bắc.
Cầu danh: Được danh - Nên tùy cấp trên bổ nhiệm - Hình quan - Võ chức - Chưởng quyền - Nhiệm thì nên hướng Tây Bắc - Thiên sứ - Dịch quan (người giữ chức dịch điếm hoặc công văn).
Mưu vọng: Việc thành - Lợi công môn - Có tài trong sự hoạt động - Mùa Hạ chiêm không thành - Mùa Đông chiêm tuy nhiều mưu nhưng ít được vừa lòng.
Giao dịch: Nêu hàng quý giá - Lợi về kim ngọc - Thành tựu - Mùa Hạ chiêm không lợi.
Cầu lợi: Có tài - Lợi về kim ngọc - Có tài trong việc công môn - Mùa Thu chiêm có lợi nhiều - Mùa Hạ chiêm tổn tài - Mùa Đông chiêm không có tài.
Xuất hành: Xuất hành có lợi - Nên vào chốn kinh đô - Lợi đi về hướng Tây Bắc - Mùa Hạ chiêm không lợi.
Yết kiến: Lợi gặp đại nhân - Người có đức hạnh - Nên gặp quý quan - Khá gặp được.
Tật bệnh: Đầu, mặt - Tật phổi - Tật gân cốt - Bịnh - Thượng tiêu - Mùa Hạ chiêm chẳng được yên.
Quan tụng: Việc kiện cáo đứng về phía mình - Có quý nhân trợ giúp - Mùa Thu chiêm đắc thắng - Mùa Hạ chiêm thất lý.
Phần mộ: Nên hướng Tây Bắc - Nên chỗ khí mạch chốn Càn sơn - Nên thiên huyệt - Nên chỗ cao - Mùa Thu chiêm xuất quý - Mùa Hạ chiêm xấu lấm.
Phương đạo: Chốn Tây Bắc.
Ngũ sắc: Sắc đỏ thắm - Sắc huyền.
Tính tự (Họ, Tên): Có chữ Kim đứng một bên - Tiếng thương (ngũ âm) - Hàng vị: 1, 4, 9.
Số mục: 1, 4, 9.
Ngũ vị: Cay - Cay nhiều lắm.
Phần Bát Quái Vạn Vật kể trên, sự việc còn rất nhiều chẳng chỉ có như vậy mà thôi. Vậy phép chiêm, nên noi theo sự việc mà suy từng loại vậy.

1) Toàn quẻ :
- Lâm là lớn, biểu thị cái gì lớn quan sát khắp chung quanh, và cũng được mọi người thấy rõ. Vậy sau quẻ Lâm tiếp đến quẻ Quán.
- Tượng hình bằng trên Tốn dưới Khôn, là gió đi trên mặt đất. Tiên vương bắt chước tượng đó, tuần xét bốn phương.
- Quẻ gồm hai quái đều âm, hạ quái Không chỉ dân chúng tòng phục, thượng quái Tốn chỉ cấp lãnh đạo khiêm tốn, lấy chí thành mà xem xét và cảm hoá kẻ dưới.
- Quán là xem xét, xem xét người và cũng xem xét ngay cả chính mình. Vậy quẻ này trỏ bảo đường lối quan sát.
2) Từng hào :
Sơ Lục : đã âm nhu lại ở vị dưới cùng, cũng như đứa trẻ dòm ngó, không đáng trách. Nhưng nếu người lớn mà có hành động như thế thì đáng xấu hổ. Ví dụ người đa sự, hay xoi bói việc nhà của người ta.
Lục Nhị : cũng ý trên, ví dụ người con gái dòm ra cửa sổ, mơ tưởng ông hoàng tử cao quý (Cửu Ngũ), đó là nhi nữ thường tình, không đáng trách. Nhưng nam nhi mà xét việc hồ đồ như thế thì đáng xấu hổ.
Lục Tam : âm hào cư dương vị, lại ở trên hạ quái, dưới thượng quái, nửa tiến nửa lùi. Hãy tự xét mình, không nên cầu may rủi. nếu thấy hoàn cảnh thuận lợi cho việc tiến thân (ứng với Thượng Cửu) thì cứ tiến. Nếu tự xét không đủ tài thì an phận là hơn.
Lục Tứ : đắc chính, lại gần Cửu Ngũ, ví như một hiền thần giúp vua quan sát dân tình một cách chính xác, trung thực. Được vậy vì Tứ nhu thuận với Ngũ, và bản thân đắc chính, nghĩa là có tài quan sát.
Cửu Ngũ : vị chí tôn, cả thiên hạ trông vào. Ngược lại, nếu muốn biết mình tốt hay xấu, cứ quan sát dân chúng sướng hay khổ, sẽ biết.
Thượng Cửu : không ở vị chí tôn như Cửu Ngũ, không có trách nhiệm trực tiếp với quốc gia, nhưng vẫn được quốc gia trông vào vì tài đức lớn. Không nên vì chính mình không giữ chức vụ nào trong chính quyền mà buông thả bỏ mặc việc đời. Miễn là giữ vững chính đạo thì sẽ được vô cựu. (Ví dụ Nguyễn bỉnh Khiêm đã từ quan nhưng vẫn lo chỉ giáo cho những người tìm đến hỏi kế: Bảo đám học trò là Phùng Khắc Khoan, Lương hữu Khánh vào Nam giúp việc trung hưng cho nhà Lê, bảo chúa Mạc nếu sau này thất bại thì cố thủ Cao Bằng được thêm vài đời, bảo Nguyễn Hoàng lánh vào Nam).
B- Nhận Xét Bổ Túc :
1) Ý nghĩa quẻ Quán :
a) Tượng quẻ này gợi ý một cái gì ở trên cao nhìn xuống dưới, hoặc ở dưới nhìn lên: Quán.
b) Vì cả nội quái và thượng quái đều âm, nên quẻ Quán chứa đựng một khuynh hướng xung đột hơn là ứng hợp, nghĩa là quan sát với ác ý hơn là thiện ý. Thêm nữa, có tới 4 hào âm dưới, có vẻ lấn áp 2 hào dương ở trên. Nên quẻ Quán còn gợi ý một xã hội trong đó cấp lãnh đạo nhu nhược, bị dân chúng dòm ngó phê bình.
2) Bài học :
a) Quẻ Quán nhấn mạnh đến sự quan sát, cả tri bỉ và tri kỷ, để thủ thắng. Tuy nó hình như đặc biệt áp dụng vào việc tình báo khi có ngoại xâm, hoặc dò la dư luận trong việc nội trị, nhưng nhu cầu tri bỉ tri kỷ thật ra được đặt cho mọi vấn đề: cầu hôn nhân, diễn thuyết, cạnh tranh thương mại, đi xin việc, chọn bạn, v . v .
b) Và thánh nhân đã cho biết, qua các hào từ, thái độ thích ứng với người bói quẻ:
- Kẻ dưới là Sơ, Nhị, Tam, chớ nên đem dạ tiểu nhân mà đo bụng anh hùng, chớ có xàm ngôn, chỉ trích vô trách nhiệm.
- Tứ là bề tôi nhu thuận và chính trực, được gần quân vương, nên đem tài ra giúp quân vương quan sát dân tình một cách trung trực.
- Cửu Ngũ là vị lãnh tụ, phải tự xét mình qua sự sướng khổ của dân chúng.
- Thượng Cửu tuy ngoài vòng cương tỏa nhưng vẫn nên chỉ giáo cho đời.
CÀN QUÁI: thuộc Kim, gồm có 8 quái là:
Thuần Càn - Thiên Phong Cấu - Thiên Sơn Độn - Thiên Địa Bỉ - Phong Địa Quan - Sơn Địa Bác - Hỏa Địa Tấn - Hỏa Thiên Đại Hửu.
Thiên Thời: Trời - Băng - Mưa đá - Tuyết.
Địa lý: Phương Tây Bắc - Kinh đô - Đại quân - Hình thắng chi địa (chỗ đất có phong cảnh đẹp - Chỗ đất cao ráo.
Nhân vật: Vua - Cha - Đại nhân - Lão nhân - Trưởng giả - Hoạn quan - Danh nhân - Người công môn (chức việc).
Nhân sự: Cương kiện vũ dũng - Người quả quyết - Người động nhiều tịnh ít - Người chẳng chịu khuất phục ai (cứng đầu).
Thân thể: Đầu - Xương - Phổi.
Thời tự: Mùa thu - Cuối tháng 9 đầu tháng 10 - Năm, tháng, ngày, giờ Tuất và Hợi - Năm, tháng, ngày, giờ thuộc ngũ kim.
Động vật: Con ngựa - Con ngỗng trời - Con sư tử - Con voi.
Tịnh vật: Kim, ngọc - Châu báu - Vật tròn - Cây quả - Mũ - Kiếng soi - Vật cứng.
Ốc xá: Đình, công sở - Lâu đài - Nhà cao - Cái nhà lớn - Quán trọ - Ở về hướng Tây Bắc.
Gia trạch:
- Mùa Thu chiêm thì gia trạch vượng.
- Mùa Hạ chiêm thì sẽ có họa.
- Mùa Đông chiêm thì suy bại.
- Mùa Xuân chiêm có lợi tốt.
Hôn nhân: Thân thuộc - Quý quan - Nhà có danh tiếng - Mùa Thu chiêm thì thành - Mùa Hạ, mùa Đông chiêm thì bất lợi.
Ẩm thực: Thịt ngựa - Trân vị - Đồ ăn nhiều xương - Gan phổi - Thịt khô - Trái cây - Cái đầu của các vật - Vật hình tròn - Vật cay.
Sinh sản: Dễ sinh - Mùa Thu sinh quý tử
- Mùa Hạ chiêm thì hao tổn - Lâm sản nên hướng Tây Bắc.
Cầu danh: Được danh - Nên tùy cấp trên bổ nhiệm - Hình quan - Võ chức - Chưởng quyền - Nhiệm thì nên hướng Tây Bắc - Thiên sứ - Dịch quan (người giữ chức dịch điếm hoặc công văn).
Mưu vọng: Việc thành - Lợi công môn - Có tài trong sự hoạt động - Mùa Hạ chiêm không thành - Mùa Đông chiêm tuy nhiều mưu nhưng ít được vừa lòng.
Giao dịch: Nêu hàng quý giá - Lợi về kim ngọc - Thành tựu - Mùa Hạ chiêm không lợi.
Cầu lợi: Có tài - Lợi về kim ngọc - Có tài trong việc công môn - Mùa Thu chiêm có lợi nhiều - Mùa Hạ chiêm tổn tài - Mùa Đông chiêm không có tài.
Xuất hành: Xuất hành có lợi - Nên vào chốn kinh đô - Lợi đi về hướng Tây Bắc - Mùa Hạ chiêm không lợi.
Yết kiến: Lợi gặp đại nhân - Người có đức hạnh - Nên gặp quý quan - Khá gặp được.
Tật bệnh: Đầu, mặt - Tật phổi - Tật gân cốt - Bịnh - Thượng tiêu - Mùa Hạ chiêm chẳng được yên.
Quan tụng: Việc kiện cáo đứng về phía mình - Có quý nhân trợ giúp - Mùa Thu chiêm đắc thắng - Mùa Hạ chiêm thất lý.
Phần mộ: Nên hướng Tây Bắc - Nên chỗ khí mạch chốn Càn sơn - Nên thiên huyệt - Nên chỗ cao - Mùa Thu chiêm xuất quý - Mùa Hạ chiêm xấu lấm.
Phương đạo: Chốn Tây Bắc.
Ngũ sắc: Sắc đỏ thắm - Sắc huyền.
Tính tự (Họ, Tên): Có chữ Kim đứng một bên - Tiếng thương (ngũ âm) - Hàng vị: 1, 4, 9.
Số mục: 1, 4, 9.
Ngũ vị: Cay - Cay nhiều lắm.
Phần Bát Quái Vạn Vật kể trên, sự việc còn rất nhiều chẳng chỉ có như vậy mà thôi. Vậy phép chiêm, nên noi theo sự việc mà suy từng loại vậy.
